CÁC NHÂN ĐỨC

 02513 769 557  79K3 Ấp Quảng Đà, Xã Đông Hoà, Huyện Trảng Bom, Tỉnh Đồng Nai, Việt Nam 
Trang chủ»Học hỏi»CÁC NHÂN ĐỨC

CÁC NHÂN ĐỨC

CÁC NHÂN ĐỨC KHÁC

 

Nhân đức là một thứ tập quán tốt làm cho con người thực hiện những việc lành cách dễ dàng và tốt đẹp.

 

Nhân đức còn là một thứ sức mạnh nội tâm giúp con người vượt qua những trở ngại để đạt tới sự thiện trong đời sống.

 

Nhân đức được định nghĩa là cách sống, cách cư xử hay thái độ tốt đẹp, phù hợp với đạo lý làm người. Do đó khi nói đến nhân đức Kitô giáo, phải hiểu là cách sống phù hợp với đạo lý làm người theo nghĩa Kitô giáo. Nhân đức Kitô giáo là nhân đức của Tin Mừng, cách sống đạo làm người theo Tin Mừng. Nền tảng của cách sống này là đức ái hay lòng mến, phản ảnh lòng mến của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô.

 

Tin Mừng không tách rời tự nhiên với siêu nhiên, nên khoa thần học luân lý hôm nay cũng không muốn tách rời tự nhiên với siêu nhiên khi bàn về các nhân đức.

 

Nhân đức không gì khác hơn là những quan năng tự nhiên của con người đã được thanh luyện, được Phúc Âm hóa, hướng về những giá trị cao cả của Tin Mừng.

 

Vì cuộc sống con người có nhiều mặt, nhiều thứ quan hệ, nhiều loại sinh hoạt, nên cần có nhiều loại “sức mạnh tinh thần”, nhiều thứ “tập quán tốt” biểu hiện và phát huy các tiềm năng, làm cho con người triển nở đích thực, hướng về hạnh phúc viên mãn của mình và tha nhân.

 

Nói theo kiểu Aristote và thánh Thomas, con người là tiềm thể hướng về hiện thể, cần được trang bị các nhân đức, để cho hành trình hay biến chuyển này là một hành trình và biến chuyển theo chiều hướng tốt. Nhân đức giúp cho hành trình được mau lẹ, không chậm trễ, và chắc chắn đạt mục tiêu.

 

Thần học luân lý cổ điển phân biệt nhân đức làm hai loại tự nhiên và siêu nhiên (loại một do sức tự nhiên của con người nhằm đạt cứu cánh tự nhiên, loại hai do ơn siêu nhiên nhằm mục tiêu siêu nhiên). Nhân đức tự nhiên thường là đắc thủ, nghĩa là do con người gầy dựng, do tập luyện mà có, còn nhân đức siêu nhiên do thiên phú.

 

Thần học hôm nay ít thích kiểu phân biệt này, vì coi cái tốt “tự nhiên” cũng là hồng ân, và năng lực siêu nhiên bao hàm nỗ lực đáp trả của con người.

 

Thần học cổ điển có ưu điểm làm nổi bật những “nhân đức tự nhiên” có thể có ngay cả nơi những người không tin Chúa Kitô, và đôi khi còn trổi vượt hơn những người Kitô hữu. Điểm yếu là khuynh hướng tách rời Tin Mừng và rơi vào lý luận thuần túy nhân bản, khiến luân lý Kitô giáo không còn là “cách sống Tin Mừng” nữa. Vả lại những điều tốt “tự nhiên” không hẳn là thuần túy đắc thủ.

 

Đức ái là con đường siêu vời, là đặc sủng lớn nhất, mà Phaolô đã ca ngợi bằng những lời đẹp nhất trong Bài Ca Đức Ái 1Cr 13. Cũng chính Phaolô kê ra những đặc tính của đức ái như khoan dung, nhân hậu, không ghen tương, không tự mãn … Những đặc tính có thể một phần do tự nhiên, một phần do đắc thủ bằng những cố gắng thường nhật, nhưng chúng được bao hàm trong một quan hệ “siêu nhiên” với Thiên Chúa và tha nhân.

 

Đức ái là hoàng hậu các nhân đức, nhưng không lấn át làm lu mờ các nhân đức khác. Có người chủ trương cách sai lầm rằng hễ có đức ái, thì không cần nhân đức gì khác nữa. Trái lại, đức ái đòi hỏi nhiều nhân đức, đề cao các nhân đức và muốn cho các nhân đức ấy triển nở không ngừng. Đức ái là linh hồn các nhân đức, điều khiển và sử dụng các nhân đức như phương tiện cho sự sống của chính mình, đồng thời bồi dưỡng và làm nền tảng cho các nhân đức. Nhưng ngoài đức ái, đức tin và đức cậy là ba nhân đức đối thần, bao hàm tất cả đời sống Kitô giáo và có quan hệ chặt chẽ với nhau, còn một số nhân đức nền tảng khác, được gọi là “bản đức”.

Muc luc

 

I. KHÔN NGOAN

 

Khôn ngoan là một nhân đức thực tế, là nhân đức của hành động. Trong đời sống luân lý, có những nguyên tắc phổ quát cần phải được ứng dụng vào cuộc đời thực tế và muôn mặt, phức tạp và biến chuyển không ngừng. Con người phải có khả năng vận dụng sáng tạo trong từng hoàn cảnh. Khả năng thực tiễn ấy là nhân đức khôn ngoan. Người khôn ngoan thường là người quyết định đúng, hành động đúng , dù  hoàn cảnh tế nhị và khó khăn, dù phải ứng phó với những vấn đề gai góc và những quan hệ đa diện.

 

Có người coi khôn ngoan như một sự thận trọng theo nghĩa xấu, một sự tính toán dè dặt, không dám liều mình dấn thân. Nhưng đó chỉ là hình ảnh méo mó của nhân đức khôn ngoan.

 

Đức khôn ngoan Kitô giáo không bị trói buộc trong hạn giới tự nhiên, bằng không sẽ trở thành khôn ngoan theo kiểu thế gian, và đôi khi trở nên một sự đắn đo, cân nhắc ích kỷ. Đức khôn ngoan Kitô giáo phải dìm mình trong “cảnh vực thần linh”, bám rễ vào sự “khôn ngoan của thập giá” để khỏi trở nên sự khôn ngoan của xác thịt, của “con cái đời này”. Chính vì thế mà động lực của khôn ngoan là đức ái. Khôn ngoan Kitô giáo là bộ mặt thực tiễn của đức ái, là sự tính toán cân nhắc của đức ái. Sự khôn ngoan còn được nuôi dưỡng bằng đời sống cầu nguyện. Cầu nguyện làm cho con người trở nên sáng suốt, bình tĩnh, tin tưởng, và đó là điều quan trọng cốt yếu cho bất cứ quyết định hay hành động khôn ngoan nào.

 

Nhân đức khôn ngoan gắn liền với ơn khôn ngoan và ơn hiểu biết do Chúa Thánh Thần. Chúng ta nhận ra nơi những con người thánh thiện, đầy Thần Khí, những quyết định hay hành động rất khôn ngoan và sáng suốt trong những hoàn cảnh phức tạp, với một thời gian suy nghĩ ngắn ngủi. Tình yêu của thánh nhân đối với Thiên Chúa và tha nhân làm cho thánh nhân có “đôi mắt sáng”. Khả năng khám phá và sáng tạo của tình yêu Kitô giáo là vô hạn. Khả năng ấy là một hồng ân, vì chính đức ái cũng là hồng ân.

 

Nhưng vì đức ái, hay các ơn khác của Chúa Thánh Thần không là những sự vật từ trời rơi xuống trên ai thì người ấy hưởng nhờ, mà vừa là hồng ân, vừa là hoa quả của sự gặp gỡ tiếp xúc giữa Thiên Chúa và con người, nên đức ái và các ơn, đặc biệt là ơn khôn ngoan, không cho phép ỷ lại, lười suy nghĩ và cân nhắc. Nại vào sự quan phòng và hướng dẫn của Thiên Chúa mà không thực hiện những cố gắng cần thiết là coi thường công trình của Người, và đôi khi là thử thách Người.

 

Không vị thánh nào mà không có ơn Chúa. Cũng không vị thánh nào mà không nỗ lực và hy sinh. Trong lãnh vực hành động, thánh nhân thường suy nghĩ đắn đo, trao đổi và bàn hỏi với một tâm hồn khiêm nhu và rộng mở.

 

Nhân đức khôn ngoan thường được định nghĩa là “một khả năng đắc thủ của trí tuệ”, quen tìm ra những phương thế phù hợp để ứng dụng các nguyên tắc luân lý vào trong đời sống thực tế, nhưng không có nét nào của đức khôn ngoan mà không được đức ái “biến đổi”, khi tình yêu thnầ linh ấy bắt đầu tác động.

 

Nghe, nhìn, suy nghĩ, phán đoán rồi mới hành động là những chặng đường của nhân đức khôn ngoan. Kiên nhẫn trải qua các chặng đường này, con người sẽ tập được đức khôn ngoan và thường xuyên hành động đúng. Người Kitô hữu khôn ngoan là người biết cộng tác với ơn Chúa trong khi hành động. Càng trông cậy vào ơn Chúa, con người càng vận dụng trí tuệ mà Thiên Chúa ban. Càng dùng trí tuệ để nghiên cứu và phân tích, Kitô hữu càng tin tưởng vào tình thương quan phòng của Thiên Chúa.

 

Trong một hành vi khôn ngoan, ân sủng và tự nhiên quyện lấy nhau, con người và Thiên Chúa kết hiệp với nhau bằng thực tiễn. Người Kitô hữu sử dụng cả những nguyên liệu tự nhiên lẫn siêu nhiên để sống và hành động. Ở đây, chúng ta có thể phân biệt các phương thế hành động, nhưng không tách biệt. Có lúc phương tiện tự nhiên, lúc khác phương tiện siêu nhiên nổi bật hơn, nhưng chúng không bao giờ khai trừ nhau, trái lại bao hàm lẫn nhau trong tâm hồn Kitô hữu.

 

Sự khôn ngoan của người Kitô hữu, kể cả về phương diện tự nhiên, có mục tiêu cuối cùng hoàn toàn siêu nhiên là làm sáng danh Thiên Chúa, làm vui lòng Ngài như Thánh Têrêsa Giêsu Hài Đồng đã nói, vì động lực căn bản này hành động trong tâm hồn Kitô hữu, sự khôn ngoan đích thực cuối cùng trở nên sự đơn sơ chân thành kết hợp chân lý và tình yêu trong mỗi hành động : Kitô hữu thi hành sự thật trong lòng mến.

Muc luc

 

II. CÔNG BÌNH

 

Hơn bất cứ lãnh vực nào, lãnh vực công bằng được các nhà luân lý coi như lãnh vực thuần túy tự nhiên.

 

Nhân đức công bằng được định nghĩa là “chấp nhận và tôn trọng quyền lợi của người khác”. Mỗi người đều là “hình ảnh của Thiên Chúa”, là chủ vị tự do, nên có những quyền lợi vật chất và tinh thần bất khả xâm phạm. Mọi người đều bình đẳng, có quyền sống xứng đáng và được kính trọng.

 

Mới nghe qua, nhân đức công bằng được coi như một nhân đức tối thiểu cần phải có, dù là đối với Kitô hữu hay đối với người ngoại đạo. Vì quan niệm này mà nhiều người ít để ý đến sự công bằng, và hậu quả là công bằng bị quên lãng, quyền lợi con người bị chà đạp.

 

Sự bất mãn, đặc biệt là của những người nghèo đã nhiều lần bùng nổ dữ dội trong lịch sử loài người. Bài học lịch sử bó buộc người Kitô hữu phải đặt lại vấn đề công bằng. Không thể rao giảng tình thương nhẫn nhục, chịu đựng, để kiềm hãm sự phẫn uất của bao nhiêu người chưa được coi là người.

 

Đức ái không bị giới hạn trong công bằng, nhưng bao hàm và đòi hỏi công bằng. Yêu thương một người đòi hỏi trước tiên phải kính trọng người ấy. Và kính trọng một người đòi buộc phải tôn trọng những quyền lợi của người ấy cách thực tế.

 

Tôn trọng quyền lợi của một con người trong một xã hội luôn luôn có tranh chấp không phải là một chuyện đơn giản. “Ý thức tối thiểu” về sự công bằng không đủ để cho người Kitô hữu cư xử đúng đắn trong một xã hội đầy dẫy những biến chuyển phức tạp. Cần phải có một ý thức tối đa về công bằng, vì không bao giờ chúng ta có thể khám phá hết các quyền lợi của con người. Phẩm giá của con người, với những tiến bộ của xã hội và lịch sử, càng ngày càng bao hàm thêm nhiều yếu tố mà trước đây người ta chưa nhận ra.

 

Về phương diện này, phải công nhận tính xúc tác của đức ái Kitô giáo đối với những khám phá mới mẻ và đúng đắn về công bằng. Tình yêu đích thực cho chúng ta “đôi mắt sáng” để nhận ra những đòi hỏi của phẩm giá con người, đặc biệt là nơi tha nhân.

 

Có người nói rằng điều hôm qua là bác ái, hôm nay là công bằng, và điều hôm nay là bác ái sẽ là công bằng đối với những thế hệ mai sau. Khẳng định này có hơi quá đáng, nhưng có một ý nghĩa sâu xa. Những cải cách xã hội đều tuân theo quy luật này, dù nhiều khi không có ý thức minh nhiên. Thực ra, đó là ảnh hưởng tiềm tàng nhưng mãnh liệt của “men trong bột”. Người ta không thấy men, mà chỉ nhận ra đấu bột mỗi ngày một lớn thêm. Lãnh vực công bằng mỗi ngày một nới rộng, và hơn bao giờ hết, ngày hôm nay, khi đề cập đến công bằng, người ta không thể bỏ qua “công bằng xã hội”.

 

Ngày trước, người ta quan niệm “của ai trả cho người đó” là công bằng. Điều này đúng nhưng chưa đủ. Ngày nay, người ta khẳng định mỗi người phải có phần của mình trong xã hội, để sống xứng đáng là con người. Xã hội phải được tổ chức cách nào để bảo đảm cho con người quyền sinh tồn và phát triển. Thần học luân lý phân biệt công bằng giao hoán và công bằng phân phối. Ngày nay, hai thứ công bằng này phải đi đôi, không thể tuyệt đối hóa một thứ và tách rời khỏi thứ công bằng kia. Tuyệt đối hóa công bằng giao hoán mà không để ý đến hoàn cảnh nghèo đói của tha nhân là xúc phạm công bằng. Tuyệt đối hóa công bằng phân phối và coi thường công bằng giao hoán cũng là bất công, vì khuyến khích sự lười biếng, và do đó làm cho con người và xã hội chậm phát triển.

 

Đối với người Kitô hữu, công bằng là lãnh vực tự nhiên, nhưng không tách rời khỏi siêu nhiên. Trong những hoàn cảnh phức tạp và có nhiều cám dỗ về tiền bạc, người Kitô hữu phải có “khả năng từ bỏ” để có thể thực thi công bằng đúng mức. Vả lại sự công bằng đôi khi rất khó và đòi hỏi một đức ái mãnh liệt mới làm nổi.

 

Khi đề cập đến nhân đức công bằng, phần nhiều người ta chỉ nghĩ đến phương diện vật chất, mà không nghĩ đến phương diện tinh thần cũng rất quan trọng. Người ta xúc phạm danh dự nhau cách dễ dàng bằng những hành vi như bôi nhọ, nói xấu, làm sỉ nhục. Sự tôn trọng nhân phẩm con người thuộc phạm vi công bằng. Tích cực hoạt động bênh vực nhân phẩm con người là tích cực hoạt động cho công lý.

 

Khi nói đến công bằng, người ta cũng hay quên các loại nghĩa vụ của mình đối với tha nhân, đối với gia đình, xã hội và tổ quốc. Một người thực hiện đến nơi đến chốn lòng hiếu thảo đối với cha mẹ già là một con người yêu thương thực tiễn, chứ không bằng môi miệng. Bác ái và công bằng đối với cha mẹ là bổn phận của mỗi người con. Một người thiết tha xây dựng công ích là một con người hiểu và sống đức công bằng trên bình diện rộng lớn. Yêu mến tổ quốc cũng là một nghĩa vụ thiêng liêng đối với người Kitô hữu. Phản bội tổ quốc vì quyền lợi riêng tư là vi phạm đức công bằng trầm trọng, là một hành vi đáng nguyền rủa trên bình diện tự nhiên cũng như siêu nhiên.

Muc luc

 

III. DŨNG CẢM

 

Dũng cảm là một nhân đức luân lý tự nhiên, nhưng đối với người Kitô hữu, nó còn là một ơn siêu nhiên.

 

Dũng cảm là một sức mạnh tinh thần, là sự can đảm thi hành điều thiện, dù có nhiều khó khăn, ngăn trở đe dọa, hay phải chấp nhận một sự thiệt hại trước mắt.

 

Dũng cảm một phần là bẩm sinh, một phần do tập luyện. Rất nhiều người, ngoại đạo cũng như Kitô hữu, thiếu hẳn nhân đức này. Phần đông chúng ta mềm yếu, dễ thụt lùi trước những khó khăn, dễ lay chuyển trước những đe dọa hay áp lực bên ngoài. Hơn nữa, vì thiếu quảng đại hy sinh, chúng ta rất ngại thiệt thòi. Nhưng ơn gọi làm người rất cao cả và nhiều khi đòi hỏi con người phải can đảm mới có thể làm người đến nơi đến chốn. Ơn gọi bước theo Chúa Kitô còn đòi một sự can đảm lớn hơn. Như Chúa đã nói : kẻ nào mất mạng sống mình vì Ngài thì sẽ được lại (Mt 16, 25).

 

Dũng cảm không chỉ là sự gan dạ bẩm sinh. Một con người nhút nhát có thể dần dần trở nên dũng cảm nhờ tập luyện, nhờ lý tưởng cao thượng, nhờ ơn can đảm Chúa ban.

 

Dũng cảm là nhân đức vừa sâu, vừa rộng hơn sự gan dạ tự nhiên, bao hàm nhiều đức tính như mạnh dạn, cao thượng, kiên tâm, nhẫn nhục.

 

A. MẠNH DẠN

 

Sự mạnh dạn cần thiết cho thiện ích bản thân và tha nhân. Nếu phần đông chúng ta không mạnh dạn thực hiện một công việc, một chương trình, thì công việc và chương trình ấy không bao giờ thành đạt. Vĩ nhân thường là con người mạnh dạn, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Sự can đảm hành động phát  xuất từ nhiều động lực. Nếu động lực xấu hay mục tiêu xấu, thì hành vi của con người không thể gọi là dũng cảm. Con người dũng cảm vì lý tưởng, vì tình yêu, vì niềm tin.

 

Sự mạnh dạn vừa do sức mạnh nội tâm vừa do cái nhìn rộng rãi, muốn cho bản thân và tha nhân vươn lên và hưởng nhờ loợi ích công việc mình làm. Dấn thân là một hình thái mạnh dạn đưa tới những hành động đôi khi quyết liệt nhằm đạt mục tiêu. Kitô hữu được mời gọi dấn thân phục vụ Thiên Chúa và tha nhân.

 

B. CAO THƯỢNG

 

Người ta thường ngưỡng mộ những tâm hồn cao thượng. Còn người cao thượng không có ý nghĩ nhỏ nhen, tầm thường, nhưng có cái nhìn quảng đại, rộng lớn. Cao thượng không phải là tham vọng, mà là sống tối đa giá trị làm người của mình, là vươn lên, là rộng mở, là khao khát và thực thi những giá trị chân thiện mỹ. Đức ái đòi hỏi sự cao thượng, và cũng làm cho tâm hồn con người dần dần trở nên cao thượng. Suy nghĩ về sự cao cả của con người, nhiều triết gia đã phải thốt lên những lời tán tụng. Platon nói : “Đẹp thay con người đích thực là người”. Psichari : “Cái quyền được làm người thực là kỳ diệu”. Sự vĩ đại của con người hệ tại ở tình yêu và tự do, và thể hiện bằng quan hệ với Thiên Chúa và tha nhân. Đức ái làm cho con người có khả năng vượt qua mọi giới hạn.

 

Cao thượng là hòa điệu giữa ân sủng và tự do, giữa tình yêu của con người và tình yêu của Thiên Chúa, giữa nỗ lực tự nhiên và ơn sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Theo Pascal, dấu chỉ tâm hồn cao thượng nơi người Kitô hữu là : “Làm những việc nhỏ một cách cao cả, vì sự vĩ đại của Đức Kitô, Đấng đang sống và hành động trong chúng ta ; làm những việc lớn mà coi như nhỏ và dễ dàng, vì tin vào sự toàn năng của Người”. Người Kitô hữu vĩ đại do sự hiện diện của Chúa Kitô trong mình. Khả năng ngưỡng mộ người khác cũng là một dấu chỉ cao thượng, dấu chỉ một tâm hồn sống rộng mở, biết chimê ngưỡng, đón nhận những giá trị đến từ bất cứ nơi nào.

 

C. KIÊN TÂM

 

Thời gian là một yếu tố quan trọng trong đời sống con người. Thời gian cần thiết để cho con người lớn lên và trưởng thành, nhưng thời gian cũng có thể làm tiêu tan những khát vọng, những quyết tâm, làm phai nhạt những tâm tình và tư tưởng cao thượng. Vì thời gian gắn liền với con người, sự dũng cảm của con người phải đảm nhận chiều dài của thời gian. Con người không sợ thời gian, không lùi bước trước thời gian, nhưng kiên tâm bền vững voới thời gian. Kiên trì là một nhân đức biểu lộ sự vững chắc của con người. Nhờ kiên trì, con người thành đạt cả về phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, như Chúa đã nói, ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu rỗi (Mt 10, 22). Kiên trì biểu lộ ý thức sâu xa về thời gian và vĩnh cửu. Mỗi Kitô hữu đều thông phần vào vĩnh cửu ngay trong thời gian.

 

Kiên trì là chiến thắng bản thân và thời gian. Mỗi người đều có nội thù trong tâm hồn mình, đó là những khuynh hướng xấu, là sức ì làm tê liệt những dự tính, những chương trình hay quyết định tốt lành. Kẻ nội thù này sử dụng thời gian để ngăn chặn sự vươn lên không ngừng của con người. Ngoại cảnh là đối thủ đáng sợ khi có kèm theo thời gian. Vậy kiên trì là sức mạnh bền bỉ chiến thắng thời gian, vượt qua thời gian để đi về vĩnh cửu. Đối với người Kitô hữu, sức mạnh này ví như nhựa sống, chỉ có được khi con người không ngừng tiếp xúc với Nguồn Sự Sống là Thiên Chúa.

 

D. NHẪN NHỤC

 

Nhẫn nhục là một nhân đức mà thế giới hôm nay có khuynh hướng coi thường, vì người ta coi đó như là một thái độ mềm yếu, thụ động, từ khước quyền làm người.

 

Thực ra “nhẫn nhục” là một nhân đức của người có “chí lớn”, người không chạy theo hư danh, không cần thành công trước mắt. Con người nhẫn nhục là con người không để cho tâm hồn mình bị kích động, bị khiêu khích và lay chuyển bởi những sự dữ và những con người xấu. Nhẫn nhục còn phát xuất từ một tâm hồn dịu dàng, mà không mềm yếu. Con người nhẫn nhục là con người không muốn tranh chấp hơn thua, không vì lười biếng hay sợ thua, nhưng vì hiền lành và khiêm tốn. Nhẫn nhục là sự hài hòa giữa cứng rắn và dịu dàng. Một khiên thuẫn không rắng chắc sẽ không chịu đựng được tên bắn hay gươm đâm từ nhiều phía. Một con người không có tình yêu dịu dàng, thì dễ phẫn nộ và bất chấp.

 

Nhẫn nhục là sức mạnh nội tâm chữa lành các vết thương do tha nhân và hoàn cảnh gây ra cho mình, không để cho các vết thương lan rộng và giết chết tâm hồn mình. Nhẫn nhục là một nhân đức của trí tuệ chế ngự nỗi buồn và thậm chí chiến thắng sự chết. Nhẫn nhục là khả năng của ý chí khước từ cácm dỗ biểu dương sức mạnh, cám dỗ rời bỏ con đường tình yêu của Đức Giêsu. Nhẫn nhục là sức mạnh của thập giá, là sức mạnh vô biên trong cái vỏ bên ngoài yếu đuối, và sức mạnh ấy là sức mạnh của tình yêu. Ngoài logích của tình yêu, nhẫn nhục chỉ là đầu hàng hay là tính toán hơn thiệt, là hạ thấp phẩm giá mình để cầu lợi hay yên thân.

Muc luc

 

IV. TIẾT ĐỘ

 

Tiết độ là một nhân đức phần lớn được coi là do giáo dục. Châm ngôn “nhân đức đứng chỗ trung dung” ứng dụng đúng hơn cả cho nhân đức này. Tiết độ là một sự kiềm chế cần thiết những bản năng xấu nơi con người, để cho “lý trí được làm chủ và con người được tự do”. Con người có một khía cạnh sinh vật, nhưng khía cạnh ấy cũng phải được nhân bản hóa. Tiết độ là nhân đức giúp con người “sống cho ra cái giống người”.

 

Tiết độ trong vấn đề ăn uống là một việc xem ra rất nhỏ, nhưng sẽ đưa tới những kết quả lớn như sự tự chủ của bản thân, và sự kính trọng của tha nhân. Trên bình diện siêu nhiên, tiết độ là một sự hy sinh nâng cao phẩm giá con người, đồng thời đưa đến cho con người nhiều ân sủng.

 

Tiết độ không ngăn cấm con người ăn ngon mặc đẹp, vì đó cũng là những giá trị trang điểm cho cuộc đời, những giá trị có thể trở nên yếu tố của văn hóa và văn minh nhân loại. Nhưng sự chừng mực bao giờ cũng mang lại cho con người sự vui sướng và sự trang nhã của kiếp người.

 

Sự tiết độ giải thoát con người khỏi nô lệ của cải vất chất, và do đó đi đôi với đức khó nghèo. Kitô hữu không quá bận tâm ngày mai mình sẽ ăn gì, uống gì, nhưng bận tâm tìm Nước Trời trước đã. Tiết độ là một nhân đức tự nhiên có âm vang siêu nhiên.

 

A. TIẾT DỤC 

 

Trong lãnh vực đời sống vợ chồng, tiết độ là dấu chỉ của một tình yêu cao cả, không giới hạn vào bản năng xác thịt, một tình yêu được thánh Phaolô so sánh với tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội Thánh. Tiết độ không phủ nhận bản năng tính dục, trái lại còn thăng hoa bản năng, làm cho bản năng góp phần vào hạnh phúc chân chính của đôi vợ chồng. Tiết độ không ngăn cấm vợ chồng hưởng niềm vui xác thịt, nhưng mang đến cho lạc thú ấy phúc lành của Thiên Chúa.

 

Ở đây luân lý Kitô giáo vừa lý tưởng, vừa thực tế, lý tưởng vì con người là tinh thần, thực tế vì con người là thể xác. Luân lý Kitô giáo theo quy luật tín lý của mầu nhiệm nhập thể, không coi thường thân xác, nhưng đề cao thân xác đúng mức, không để cho thân xác chế ngự tinh thần, làm cho nhân tính trở nên thú tính. Nhân đức tiết độ biểu lộ sự tự do của con người và củng cố sự tự do ấy ngay cả trong bản năng có khía cạnh sinh vật. Tiết độ là sự hài hòa kỳ diệu giữa trí tuệ và bản năng, làm cho sự phối hợp vợ chồng có giá trị biểu tượng sự kết hợp giữa Chúa Kitô và Hội Thánh. Hai trở nên một, một mà vẫn là hai. Tiết độ vừa giúp cho tình yêu vợ chồng triển nở, vừa làm tăng truởng tình yêu của vợ chồng đối với Chúa Kitô. Chúa Kitô là người bạn của cả vợ lẫn chồng, không tranh cướp tình yêu vợ chồng, nhưng chúc phúc và nuôi dưỡng tình yêu ấy.

 

Nhân đức tiết độ còn có quan hệ với tình yêu con cái, với sự sinh đẻ có trách nhiệm. Người con sinh ra từ hành vi phối hợp vợ chồng không cho phép hành vi ấy là một hành vi thuần túy sinh vật. Người con sinh ra là hoa quả, là mục tiêu của hành vi ấy, nên đòi hỏi hành vi ấy phải là một hành vi tự do, một hành vi yêu thương đích thực, một tác động được cử hành xứng đáng với phẩm giá con người.

 

Nhân đức tiết độ trong đời sống vợ chồng sẽ giúp cho họ hiểu sâu xa giá trị cao cả của sự trinh khiết vẹn toàn trong bậc sống tu trì.

 

Sự tiết dục hoàn toàn là dấu chỉ của sức mạnh tinh thần chế ngự những bản năng xác thịt một cách hữu hiệu và bền bỉ. Sự chế ngự này hoàn toàn có tính chất tự do và tự nguyện. Con người khiết tịnh không là một người bất lực, nhưng là người có ơn gọi đặc biệt, tự do đáp trả ơn gọi ấy. Đó là ơn gọi biểu lộ trong đời sống dâng hiến của mình bộ mặt của thế giới cánh chung, một thế giới tuyệt đối vĩnh hằng không khai trừ những cái tương đối, nhưng không bị ràng buộc vào tương đối. Cùng một tình yêu,  nhưng tình yêu này chọn một con đường khác, con đường đặc thù mang màu sắc phổ quát, con đường phục vụ tha nhân và Thiên Chúa, con đường xả thân trọn vẹn, không vì một người, nhưng vì nhiều người, con đường hy tế tuyệt đối, con đường lễ vật toàn thiêu. Cuộc sống hoàn toàn tiết dục chỉ có ý nghĩa trong cái “logích” của tình yêu tuyệt đối.

 

Bậc hôn nhân và bậc đồng trinh không chống đối nhau, nhưng bổ túc cho nhau, làm nổi bậc giá trị của nhau, giá trị của tình yêu quá lớn lao, không trói buộc vào một cách sống duy nhất. Nhà Thiên Chúa là Cha của Đức Giêsu có nhiều chỗ ở, chỗ dành cho tình yêu vợ chồng, chỗ dành cho tình yêu tân hiến. Cùng một tình yêu chứa đựng và nuôi dưỡng các hình thái yêu thương khác nhau của loài người.

 

B. RỘNG RÃI

 

Trong lãnh vực của cải, đức tính “rộng rãi” là một hình thái tiết chế sự tham lam. Rộng rãi không phải là “hoang phí”, là vung tiền mua hết các thú vui ở đời. Nhưng rộng rãi là một sự tự do đối với tiền bạc. Con người rộng rãi làm chủ, chứ không làm tôi tiền bạc. Rộng rãi đối nghịch với hà tiện là thói tham lam, bủn xỉn, ham mê tiền bạc đến nỗi làm nô lệ cho nó.

 

Người rộng rãi là người nhận định đúng giá trị của tiền bạc, biết xử dụng nó khi cần, biết dùng cho công ích, biết xử dụng cho công việc bác ái từ thiện. Nhiều chỗ trong Tin Mừng nói về của cải, yêu cầu con người đừng bám vào của cải, đừng tôn thờ của cải, vì không ai có thể làm tôi hai chủ. Tính rộng rãi có thể đi đôi với sự nghèo khó về vật chất, như trường hợp bà góa được Chúa Giêsu ca ngợi trong sách Tin Mừng. Người rộng rãi là người biết ban phát, biết cho đi mà không hối tiếc. Sự rộng rãi về vật chất biểu lộ một phần nào sự quảng đại của tâm hồn. Nhưng quan tọng hơn cả là tinh thần khó nghèo của Tám Mối Phúc Thật. Người nghèo theo Kinh Thánh là người hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, và do đó hoàn toàn tự do đối với của cải vật chất. Rộng rãi còn đi đôi với vị tha. Người rộng rãi ít tiêu xài cho mình, nhưng sẵn sàng bỏ ra một số tiền lớn, thậm chí tất cả những gì mình có vì mục tiêu bác ái, hay để xây dựng những giá trị thiêng liêng cho bản thân và tha nhân. Chúa Giêsu đã mời gọi người thanh niên trẻ tuổi bán hết của cải lấy tiền cho kẻ khó và bước theo Người. Anh đã buồn rầu từ chối, vì tâm hồn của anh chưa đạt đến mức tự do hoàn toàn.

 

C. HIỀN LÀNH

 

Hiền lành không phải là lù đù, là yếu mềm hay lãnh đạm, ít nhạy cảm trước sự dữ. Nhân đức hiền lành là biết tiết chế sự giận dữ, làm chủ sự phẫn nộ của mình. Phẫn nộ trước sự dữ, nhưng không phẫn nộ đối với con người là dấu chỉ sự hiền lành sâu thẳm. Hiền lành là một đặc tính của đức ái sáng suốt phân biệt tội lỗi và tội nhân. Chúa Giêsu tự xưng là người hiền lành và khiêm nhượng trong lòng. Người thương yêu các tội nhân và những người yếu đuối nghèo khổ. Người mời gọi chúng ta noi gương Người. Nhưng Người đã tỏ ra cứng rắn với sự giả hình và sự cứng lòng.

 

Đối với đa số chúng ta, hiền lành là kết quả của một sự chiến thắng không ngừng những bực tức nảy ra trong lòng. Người hiền lành đích thực là một tâm hồn luôn hướng về sự thiện, là một tâm hồn dào dạt tình yêu, chỉ muốn sự lành cho người khác, không bao giờ muốn làm hại ai, không muốn cho người khác buồn phiền đau khổ vì mình, nhưng sẵn sàng chịu đau khổ vì kẻ khác. Hiền lành cũng là một nhân đức nằm trong Tám Mối Phúc Thật, phản ánh lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa. Người hiền lành không phải là người không bao giờ mất lòng kẻ khác, vì thiếu can đảm nói lên sự thật, hay vì một nhu cầu tình cảm bệnh hoạn, nhưng là một người tử tế, dễ thương, biết sống, biết ăn ở, là một người tế nhị biết để ý tới nhu cầu của người khác, biết làm đẹp lòng tha nhân trong những điều lành mạnh.

 

 

Dòng Nữ Thừa Sai Tình Thương

Địa chỉ : 79K3 Ấp Quảng Đà, Xã Đông Hoà, Huyện Trảng Bom, Tỉnh Đồng Nai, Việt Nam

Hotline : 02513 769 557 

Dòng Nữ Thừa Sai Tình Thương Chúa

1 9 7 5 - Dòng Nữ Thừa Sai Tình Thương Chúa